Túi gạo 5 cân, rào cản ‘nghìn tấn’
Khách hàng có, sản phẩm có, chứng nhận quốc tế có, mà anh không thể xuất khẩu. So với Nghị định 109 trước đây, Nghị định 107 đã bãi bỏ yêu cầu quy mô kho chứa (5.000 tấn thóc) và công suất cơ sở xay, xát (10 tấn/h) đối với doanh nghiệp xuất khẩu gạo, nhưng vẫn phải có kho chứa và cơ sở xay xát đảm bảo quy chuẩn quốc gia. Kho do doanh nghiệp tự đầu tư hoặc đi thuê, tối thiểu 5 năm.
Anh nói, để đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt về kho chứa, các túi gạo 5 kg của anh vẫn phải gánh chi phí “nghìn tấn”.
Với vài chục tấn gạo xuất khẩu mỗi tháng, đi thuê kho sẽ không tối ưu về chi phí, nhất là thời hạn dài như vậy. Cuối cùng, anh phải bán qua một doanh nghiệp lớn có giấy phép, chấp nhận mất phần lớn lợi nhuận, mất luôn quan hệ trực tiếp với khách hàng, và mất cả thương hiệu riêng gây dựng nhiều năm.
Câu chuyện đó không cá biệt. Hàng trăm, hàng nghìn cơ hội tương tự đang bị khóa lại bởi một quy định ra đời với ý định tốt nhưng sai địa chỉ.
Đề xuất bãi bỏ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo trong dự thảo Nghị quyết của Chính phủ vì thế là cần thiết. Nhưng ngay khi đề xuất này được nêu ra, đã có ý kiến lo ngại rằng bãi bỏ là “thả lỏng một ngành chiến lược”, rằng “doanh nghiệp nào cũng có thể trở thành nhà xuất khẩu”, rằng thị trường sẽ mở hoàn toàn mà không cần năng lực sản xuất, không cần vùng nguyên liệu, không cần kiểm soát chất lượng.
Tôi cho rằng cách đặt vấn đề như vậy chưa chính xác. Tự do gia nhập thị trường và quản lý chặt chẽ một ngành chiến lược không phải hai thái cực loại trừ nhau. Chúng chỉ xung đột khi chúng ta dùng sai công cụ cho mục tiêu. Và Nghị định 107 chính là một công cụ đã không còn phù hợp.
Hãy thử hỏi một câu rất cụ thể. Yêu cầu có riêng kho chứa chuyên dùng và cơ sở xay xát thực sự kiểm soát được điều gì? Nó kiểm soát quy mô tài sản vật chất của doanh nghiệp, không kiểm soát chất lượng hạt gạo, không kiểm soát đạo đức kinh doanh, không kiểm soát năng lực thương mại quốc tế. Trong khi đó, vấn đề mà thị trường thế giới đang quan tâm về gạo Việt là dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, tính đồng nhất của lô hàng, khả năng truy xuất nguồn gốc và uy tín giao hàng. Nghị định 107 không chạm tới những vấn đề này.
Chúng ta đang quản lý “doanh nghiệp có bao nhiêu mét vuông kho”, trong khi khách hàng quốc tế hỏi “hạt gạo có bao nhiêu ppm dư lượng”. Đó là sự lệch pha giữa công cụ và mục tiêu quản lý.
Có một thực tế ít được nhắc tới. Cấu trúc thị trường gạo thế giới đã thay đổi căn bản trong mười năm qua. Bên cạnh phân khúc gạo xá truyền thống cho các hợp đồng lớn, đang nổi lên những phân khúc nhỏ nhưng giá trị cao. Gạo chất lượng cao. Gạo đặc sản chỉ dẫn địa lý. Gạo dinh dưỡng cho phân khúc sức khỏe. Gạo có chứng nhận Halal, Kosher cho công nghiệp thực phẩm… Đặc điểm chung của tất cả phân khúc này là đơn hàng nhỏ, biên lợi nhuận cao, đòi hỏi chuyên môn hóa sâu thay vì quy mô lớn.
Đây chính là phân khúc mà các doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã, startup nông nghiệp Việt Nam có lợi thế. Họ linh hoạt, gắn với vùng nguyên liệu cụ thể, có câu chuyện thương hiệu riêng. Nhưng họ đang bị Nghị định 107 chặn ngay ngưỡng cửa, dù khách hàng quốc tế đã sẵn sàng. Kết quả là gạo Việt vẫn xuất chủ yếu dưới dạng hàng xá, không thương hiệu, giá thấp. Trong khi đó, Thái Lan với chính sách tự do gia nhập có hơn 200 thương hiệu gạo xuất khẩu. Campuchia tự do hóa xuất khẩu gạo từ năm 2010, đã nhiều lần đoạt giải gạo ngon nhất thế giới.
Lo ngại thương nhân nước ngoài thao túng thị trường, gom hàng đẩy giá rồi rút, là có cơ sở. Tôi không phủ nhận. Nhưng cần hỏi tiếp một câu: Nghị định 107 có ngăn được việc này không? Câu trả lời thẳng thắn là không. Thương nhân nước ngoài muốn vào thị trường Việt chỉ cần thuê pháp nhân trong nước đứng tên, hoặc đầu tư vào doanh nghiệp đã có giấy phép. Việc gom lúa tươi diễn ra ở khâu thu mua, không phải khâu xuất khẩu. Xuất tiểu ngạch biên giới vốn đã nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Nghị định 107 từ đầu. Giữ điều kiện kinh doanh kho bãi với hy vọng chống thao túng là dùng nhầm thuốc cho nhầm bệnh.
Thậm chí, tôi cho rằng chính việc duy trì điều kiện gia nhập cao đang làm vấn đề trầm trọng hơn. Hiện cả nước có xấp xỉ 150 doanh nghiệp đủ điều kiện xuất khẩu gạo. Một thị trường tập trung như vậy là môi trường lý tưởng cho thao túng, vì chi phí “bắt tay” với một số ít doanh nghiệp thấp hơn nhiều so với khi có hàng nghìn doanh nghiệp phân tán. Trong kinh tế học, đây gọi là rủi ro tập trung. Mở cửa có kiểm soát đầu ra có thể làm giảm, chứ không tăng, rủi ro bị khống chế.
Vậy bãi bỏ điều kiện kinh doanh có nghĩa là buông lỏng quản lý không? Hoàn toàn không. Đó là chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ kiểm soát đầu vào sang kiểm soát đầu ra. Thay vì hỏi “doanh nghiệp có bao nhiêu kho”, hãy hỏi “lô gạo có đạt chuẩn không”.
Cụ thể, cần đồng thời ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng gạo xuất khẩu, khuyến khích doanh nghiệp áp dụng. Cơ quan điều hành cần kết nối dữ liệu với cơ quan hải quan để Nhà nước nắm dòng chảy thị trường. Cần giữ quyền tạm dừng xuất khẩu khi an ninh lương thực bị đe dọa, như Chính phủ từng vận dụng năm 2008 và 2020. Cần cơ chế đặc thù chọn doanh nghiệp đủ năng lực thực sự cho các hợp đồng tập trung của Chính phủ (G2G), đây là điều kiện theo phân khúc, không phải điều kiện toàn ngành. Cần khung pháp lý về minh bạch chủ sở hữu hưởng lợi cuối cùng để chống cơ chế “núp bóng”.
Bộ công cụ đó vừa chặt chẽ hơn Nghị định 107 ở những điểm đáng chặt, vừa cởi mở hơn ở những điểm đáng cởi mở. Sử dụng áp lực cạnh tranh của thị trường để thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao chất lượng hạt gạo và xây dựng thương hiệu gạo Việt. Nó đặt trọng tâm đúng chỗ, ở chất lượng hạt gạo và minh bạch dòng vốn, thay vì ở yêu cầu kho bãi của doanh nghiệp.
Tôi tin rằng cải cách thực chất luôn bắt đầu từ câu hỏi đơn giản: quy định này thực sự bảo vệ ai, và có bảo vệ đúng cách không. Với Nghị định 107, sau thời gian dài thực hiện, câu trả lời dường như đã rõ. Nó chưa bảo vệ được chất lượng gạo. Nó chưa bảo vệ tốt nông dân khỏi tình trạng đầu cơ. Nó cũng chưa đủ tốt để bảo vệ thị trường khỏi thao túng. Nếu có phải chăng chỉ vô tình bảo vệ khoảng 150 doanh nghiệp đã có giấy phép, khỏi sự cạnh tranh của hàng nghìn doanh nghiệp nhỏ và những bạn trẻ khởi nghiệp đang muốn đưa hạt gạo Việt ra thế giới theo cách mới.
Bãi bỏ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo, vì thế, không phải là thả lỏng một ngành chiến lược. Đó là mở cửa cho ngành chiến lược ấy bước vào giai đoạn trưởng thành mới, nơi giá trị quan trọng hơn sản lượng, nơi thương hiệu quan trọng hơn quy mô, và nơi doanh nhân khởi nghiệp ở Sóc Trăng có quyền tự mình ký hợp đồng với khách hàng Đức của anh ấy.
Đó mới là điều một nền nông nghiệp xuất khẩu hiện đại cần.
Đậu Anh Tuấn
6 THÁNG 05, 2026