Troussier đã xóa bỏ mặc cảm tự ti của bóng đá Nhật Bản thế nào?
Troussier đã xóa bỏ mặc cảm tự ti của bóng đá Nhật Bản thế nào?
Trước khi trở thành một thế lực như ngày nay, đội tuyển Nhật Bản phải trải qua quá trình dài rũ bỏ tâm lý sợ hãi và thiếu bản lĩnh, mà dấu mốc chính là giai đoạn gắn bó với cựu HLV người Pháp Philippe Troussier.
Troussier trong một cuộc phỏng vấn với Reuters ở Tokyo, Nhật Bản ngày 25/5/2010. Ảnh: Reuters
Nhật Bản từng muốn có Arsene Wenger. Nhưng vì không thể nhận lời, “Giáo sư người Pháp” đã lịch thiệp đưa ra một gợi ý: Philippe Troussier. Xét trên nhiều phương diện, Troussier như một phiên bản thu nhỏ của Wenger: cùng là người Pháp, dáng người mảnh khảnh, đeo kính cận và mang phong thái của một học giả. Ông từng bôn ba qua các giải hạng dưới của Pháp và có nhiều năm lăn lộn tại châu Phi.
LĐBĐ Nhật Bản (JFA) ban đầu chỉ nghĩ Troussier là một phương án đóng thế tạm thời trong lúc chờ Wenger. Nhưng Wenger không bao giờ đến, còn Troussier thì ở lại và góp phần thay đổi diện mạo của bóng đá xứ sở mặt trời mọc. Sự tự tin của “Samurai Xanh” trước các ông lớn châu Âu – như đánh bại Anh ngay tại Wembley trong một trận giao hữu đầu tháng 4/2026, hay cầm hòa Hà Lan ở vòng bảng World Cup 2026 đã qua – được lát những viên gạch đầu tiên bởi Troussier.
Cựu HLV 71 tuổi này đến đất nước Đông Á vào năm 1998 với sứ mệnh chuẩn bị cho chiến dịch World Cup 2002 mà Nhật Bản là đồng chủ nhà với Hàn Quốc. Những gì ông để lại sau bốn năm trở thành bệ phóng cho vị thế hiện tại của họ.
Thời điểm Troussier mới tiếp quản, ông đối mặt với một nền bóng đá bị giam hãm trong những tư duy cũ kỹ. Đội tuyển Nhật Bản khi đó không chỉ rệu rã, mà còn bị trói buộc bởi những quy chuẩn hà khắc của xã hội nước này.
Ngôi sao sáng nhất đội bấy giờ là Hidetoshi Nakata, người vừa đầu quân cho Perugia tại Serie A. Trên sân tập lẫn phòng thay đồ, các đồng đội vẫn khép nép gọi anh là “Nakata-san”, với “san” là hậu tố thể hiện sự tôn kính gắn sau tên. Thậm chí, thói quen này còn lây sang cả các trận đấu chính thức, với những kính ngữ rườm rà, những cấu trúc câu nề nếp. Mọi thứ luôn bị áp đặt bởi tôn ti trật tự.
“Tất cả các bài tập đầu tiên của tôi đều xoay quanh chuyện giao tiếp”, Troussier kể lại trên báo Anh The Times. “Tôi có trong tay một tập thể mà các cầu thủ chỉ biết nói rằng họ đang hạnh phúc. Ngay cả việc hét lên chữ ‘chạy đi’ trên sân đối với họ cũng là một rào cản. Tôi đã phải giải thích rằng chúng ta không có đủ thời gian để thưa gửi ‘Nakata-san’ mỗi khi cần cậu ấy chuyền bóng”.
“Mỗi khi tôi muốn trao cơ hội cho các cầu thủ trẻ, làn sóng phản đối lại nổi lên”, Troussier hồi tưởng. “Cảm giác như mọi cánh cửa đều bị đóng chặt. Tôi đã phải thiết kế riêng các bài tập buộc cầu thủ phải tập ra lệnh, học cách nói ‘có’ hoặc ‘không’ với quả bóng. Sau đó, tôi lại phải ra sức thuyết phục cả đất nước này rằng tôi không hề có ý chống lại văn hóa Nhật Bản”.
Nhưng Troussier không dừng lại ở đó. Sau thất bại ê chề tại Copa America 1999 (giải đấu Nhật Bản tham dự với tư cách khách mời), ông thẳng tay loại bỏ thế hệ công thần, tiếp quản luôn đội U23 và nhanh chóng đôn thẳng các tài năng trẻ lên đội tuyển. Ông gọi đó là “chiến thuật du kích” để làm nên sự thay đổi về văn hóa đội tuyển.
Sau một chuyến tập huấn tại Burkina Faso, Troussier bắt các học trò phải nhồi nhét trên những chiếc “taxi bụi” – loại phương tiện công cộng giá rẻ và thường chở quá tải tại châu Phi – để di chuyển đến trận đấu ở thành phố Bobo-Dioulasso, nhằm rèn luyện ý chí chịu khổ. Nhưng chuyến đi tới Lebanon tham dự Asian Cup mới là bước ngoặt.
“Chúng tôi đá với Qatar ở vòng bảng”, Troussier nhớ lại. “Hai ngày trước trận, tôi cho các cầu thủ một đêm xả trại. Thông thường, họ sẽ lại rủ nhau đến một nhà hàng Trung Quốc hoặc Nhật Bản quen thuộc. Nhưng lần này, tôi bảo họ muốn đi đâu thì đi. Ngay sau đó, tôi quay lại khách sạn, yêu cầu đóng cửa tất cả các nhà hàng bên trong, đồng thời cấm các cầu thủ sử dụng xe buýt của đội. Tôi nhờ lễ tân chỉ đường cho họ đến các khu phố địa phương. Tôi muốn họ phải tự mình trải nghiệm thủ đô Beirut. Tự tìm chỗ ăn, tự do hoạt động, lang thang trên các con phố, không phải với tư cách một tập thể, mà là những cá nhân độc lập”.
“Một vài cầu thủ không chịu rời khách sạn vì họ chỉ mang theo đồng phục của đội hoặc đồ thể thao”, Troussier nói tiếp. “Nhưng cuối cùng, tôi cũng ép được tất cả ra ngoài, chia thành từng nhóm hai, ba người tự bắt taxi hoặc xe buýt công cộng. Đêm đó, ai cũng trở về với những trải nghiệm của riêng mình. Nó cho họ cơ hội để trưởng thành hơn trong tư cách một con người. Họ có một cuộc phiêu lưu mới, một câu chuyện mới. Trải nghiệm ấy đã mở mang tầm mắt và thổi một luồng sinh khí mới vào tính cách của họ. Từ sau cột mốc đó, các cầu thủ thi đấu thanh thoát và tự tin hơn hẳn”.
Troussier (thứ hai từ trái sang) trong một buổi tập của tuyển Nhật Bản trên sân Sendai, Nhật Bản ngày 17/6/2002. Ảnh: AFP
Một chương quan trọng khác trong hành trình này là trận thua tan tát ĐKVĐ thế giới Pháp 0-5 tại Paris. Trở về sau thất bại, Troussier lập tức cho học trò tập… phạm lỗi trên sân tập. Quyết định này một lần nữa vấp phải sự phẫn nộ từ dư luận xứ Phù Tang.
“Các cầu thủ đã đầu hàng ngay cả trước khi tiếng còi khai cuộc vang lên”, Troussier kể lại trận đấu tại Paris. “Suốt cả tuần đó, họ cư xử cứng nhắc như những vị khách khép nép tại một bữa tiệc tối trang trọng. Họ không thể thích nghi với ngoại cảnh và không thể thả lỏng, họ trông thật nhỏ bé và sợ hãi giữa một sân đấu bóng đá rộng lớn”.
“Về khía cạnh tâm lý, họ quá tôn sùng đối thủ, họ đã thua mà không hề có sự kháng cự nào”, Troussier lạnh lùng và không hề hối tiếc. “Tôi buộc phải gột rửa cái mặc cảm tự ti đang biến họ thành những đứa trẻ sợ sệt trước các ông lớn. Trên sân tập, tôi bắt họ tập kéo áo, tập va chạm bằng cùi chỏ, vai và những cú xoạc bóng thô ráp. Những cầu thủ vốn ngại va chạm buộc phải thích nghi với thực tại khốc liệt. Tôi không muốn thấy các học trò của mình bị đối phương giẫm đạp không thương tiếc”.
Đó là câu chuyện của một phần tư thế kỷ trước. Nhưng một Nhật Bản mà cả thế giới đang thấy hiện tại – chơi ăn miếng trả miếng sòng phẳng trước Hà Lan, hoàn toàn không hề run rẩy ngay cả khi thiếu vắng những ngôi sao như Wataru Endo hay Kaoru Mitoma – chính là quả ngọt từ nền móng mà Troussier đã xây.
Philippe Troussier (giữa) ở khu kỹ thuật sau trận Nhật Bản – Nga ở World Cup 2002 trên sân Yokohama International ngày 9/6/2002. Ảnh: AFP
Chiến lược gia người Pháp không chỉ thay đổi bóng đá Nhật Bản, ông đã thay đổi cả một hệ tư tưởng. Khi kết thúc nhiệm kỳ, JFA đã tặng ông một chai vang danh tiếng Chateau Petrus đời 1955. Đến nay, chai vang ấy vẫn nằm nguyên vẹn, chưa khui trong hầm nhà ông. Troussier chia sẻ rằng ông coi nó như một chiếc cúp cho ngọn núi cao mà ông đã chinh phục thành công.
Sống ở Nhật Bản vào năm 2002 giống như đang ở London vào thời điểm dòng nhạc Punk Rock ra đời. Tập thể của Troussier không chỉ vượt qua mọi kỳ vọng chuyên môn ở World Cup năm ấy, như đánh bại Nga và Tunisia, hòa Bỉ, đứng đầu bảng H và chỉ dừng bước ở vòng knock-out đầu tiên trước Thổ Nhĩ Kỳ với tỷ số tối thiểu. Họ còn trở thành biểu tượng cho sự nổi loạn của giới trẻ. Các cầu thủ nhuộm tóc sặc sỡ, ăn mặc phá cách khác hẳn thế hệ đàn anh, khiến một xã hội Nhật Bản bảo thủ khi đó phải nhíu mày trước làn sóng phóng khoáng mà họ khơi dậy.
Tại Osaka, 900 người với phần lớn là sinh viên đã lao mình xuống dòng sông Dotonbori từ trên cầu để ăn mừng trận thắng Tunisia. Hơn 5.000 người đã lặn lội đến trung tâm truyền thông của đội ở Shizuoka chỉ để mong được nhìn thoáng qua các tuyển thủ trong ngày mở cửa. 46.000 khán giả khác đã chứng kiến trận đấu cuối cùng với Thổ Nhĩ Kỳ tại Rifu, nán lại sân hô vang “Allez Nippon” (Tiến lên Nhật Bản) trước ra về.
Sau những cảm xúc thăng hoa và sự dịch chuyển văn hóa ấy là một kế hoạch được tính toán chi tiết. Troussier có thể là người đầu tiên khai phá tiềm năng cho thế hệ tài năng mới của Nhật Bản, nhưng sau những hoài nghi ban đầu, những nhà quản lý bóng đá nước này đã hoàn toàn tiếp thu và phát triển ý tưởng của ông.
Đội tuyển Nhật Bản tập trung vòng tròn quanh HLV Hajime Moriyasu sau trận đấu Tunisia ở vòng bảng World Cup 2026 trên sân Monterrey, Mexico ngày 21/6/2026. Ảnh: Reuters
Nguồn lực tài chính khổng lồ của Nhật Bản được đổ vào hệ thống đào tạo trẻ. Những yếu tố văn hóa đại chúng, như loạt truyện tranh Captain Tsubasa, cũng góp công lớn trong việc phổ cập môn thể thao vua vào học đường. Các câu chuyện anime tôn vinh giá trị của lòng quả cảm, quyết tâm, hoài bão lớn và tinh thần đồng đội được áp dụng hoàn hảo vào bóng đá.
Nhật Bản vẫn đang đi đúng lộ trình của kế hoạch vô địch World Cup vào năm 2050, thậm chí thầy trò Hajime Moriyasu còn đặt mục tiêu vô địch ngay mùa hè 2026. Sự ổn định được duy trì dưới thời nhà cầm quân 57 tuổi (ở kỳ World Cup này, chỉ có Didier Deschamps là có thâm niên tại vị lâu hơn ông). JFA chỉ có một chút gợn lòng khi chưa thể phá dớp vòng 1/8, dù từng làm nên những chiến thắng hiển hách trước các ông lớn như Cameroon, Đan Mạch, Colombia, Tây Ban Nha và Đức tại các giải đấu lớn.
Ở tuổi 71, dù Troussier dành phần lớn thời gian cho việc sản xuất rượu vang, nhưng thói quen cũ vẫn khó bỏ. “Về mặt kỹ chiến thuật, Nhật Bản đã đạt đến đẳng cấp của các đội bóng hàng đầu. Tuy nhiên, khi đối đầu với nhóm tinh hoa châu Âu, chỉ có phẩm chất kỹ thuật thôi là không đủ. Chẳng hạn hiệp hai trước Hà Lan đã chứng minh rằng khi Nhật Bản sẵn sàng đáp trả bằng thể lực và tốc độ, họ hoàn toàn có thể chơi sòng phẳng với bất kỳ đối thủ nào. Bản sắc bóng đá hiện đại của họ dựa trên kiểm soát bóng, tổ chức chiến thuật và chất lượng kỹ thuật. Bước tiếp theo là tiếp tục nâng tầm thể chất và tinh thần khi chạm trán các ông lớn”, Troussier nhận xét về thầy trò Moriyasu.
Hoàng Thông (theo The Times)
27 THÁNG 06, 2026